Biên phòng - Theo Nghị định số 67/2014/NĐ-CP của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách phát triển thủy sản, ngư dân đóng tàu vỏ thép, tàu lớn đánh bắt cá xa bờ sẽ được hỗ trợ và hưởng nhiều ưu đãi. Sau 1 năm thực hiện, Chính phủ đã ban hành Nghị định 89/2015/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 67. Tuy nhiên, rất nhiều ngư dân hiện nay vẫn không mặn mà đóng tàu lớn vươn khơi vì một lý do khác nhau.
Còn nhiều vướng mắc
Chúng tôi gặp anh Lê Văn Lai, khu phố 7, phường Mỹ Đông, TP Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận trong những ngày anh nghỉ đi biển để sửa chữa tàu và ngư lưới cụ. Anh buồn rầu cho biết: "Đời sống của chúng tôi chật vật hơn so với mọi năm do sản lượng đánh bắt cá thấp, giá cả lại sụt giảm. Năm trước, mỗi chuyến đi biển, thuyền tôi đánh bắt được khoảng 8 tấn cá, nhưng năm nay sụt giảm xuống còn 4-5 tấn cá. Nguồn cá sụt giảm, giá cả không ổn định nên đi biển về lỗ nhiều hơn lãi".
Anh Lai làm nghề biển đã 21 năm, thường đánh bắt cá ở khu vực Nhà giàn DK1. Theo anh, hiện giờ, nguồn cá tuyến lộng đã cạn kiệt, sản lượng khai thác không hiệu quả như trước kia. Nhiều ngư dân tính tới chuyện đóng tàu lớn hơn để vươn khơi, bám biển đánh bắt xa bờ nhưng vẫn còn nhiều trăn trở. "Chúng tôi rất vui vì Nghị định 67 ban hành, ngư dân được hưởng nhiều chính sách hỗ trợ của Nhà nước. Tuy nhiên, việc huy động nguồn vốn đóng tàu với chúng tôi rất khó. Theo Nghị định 67, chủ tàu phải bỏ ra 30% vốn đối ứng với tàu vỏ gỗ. Một tàu cỡ lớn trị giá cả chục tỉ đồng, dù được sự hỗ trợ của Nhà nước, chúng tôi vẫn phải bỏ ra ít nhất vài tỉ đồng. Đối với phần đông ngư dân, số tiền này là quá lớn, khó có thể đầu tư một lúc. Cái khó nữa là bây giờ tìm bạn thuyền không phải dễ. Đi biển với mình một vài chuyến mà lỗ là bạn thuyền bỏ theo thuyền khác ngay. Bởi thế, tôi chưa dám đầu tư đóng tàu lớn" - anh Lai giãy bày.
Một điều nữa anh Lai băn khoăn là hiện nay, dịch vụ hậu cần nghề cá chưa đảm bảo, trong khi đầu ra cho nghề cá còn khá bấp bênh. Anh cho hay: "Trước đây, cá sọc còn xuất khẩu được, nhưng từ cuối năm 2013 đến nay, loại cá này chỉ bán cho giới lái buôn trong nước với mức giá không ổn định. Chúng tôi đi biển một chuyến đánh bắt được hơn chục tấn, gặp chợ bán được 30.000 đồng/kg, ngư dân còn có lãi. Nhưng giá cá có lúc giảm xuống còn có 15.000 đồng/kg, chúng tôi chỉ đủ phí tổn". Anh cho biết thêm: "Tôi theo dõi trên truyền hình được biết, Chính phủ đã phê duyệt xây dựng 6 trung tâm dịch vụ hậu cần nghề cá hiện đại gắn với các ngư trường trọng điểm, trong đó có Trường Sa và Hoàng Sa. Tuy nhiên, hiện nay chưa xây được cơ sở hậu cần nghề cá nào mà đã khuyến khích ngư dân đóng tàu lớn. Nếu đi tàu lớn về lỗ, chừng 1-2 tháng là đậu bờ liền. Tôi mong Nhà nước đầu tư xây dựng cơ sở hậu cần nghề cá trước để ổn định đầu ra, giúp ngư dân mạnh dạn đánh bắt xa bờ".
Theo tìm hiểu của chúng tôi, ngư dân chưa mặn mà với "tàu 67" do nguồn vốn lớn, các cơ sở hậu cần cho nghề cá xa bờ chưa đảm bảo. Thêm vào đó, ngư dân còn khá lúng túng với trình tự, thủ tục đăng ký, các khâu thẩm định dự án đóng tàu… Ông Nguyễn Tuấn Chung, Phó Chủ tịch UBND phường Đông Hải, TP Phan Rang - Tháp Chàm cho hay, đa số ngư dân không đủ khả năng đóng tàu vỏ sắt do thiếu vốn. Bên cạnh đó, cảng cá phường Đông Hải đang lâm vào tình trạng quá tải trầm trọng. Hiện chưa có cảng đảm bảo neo đậu cho tàu lớn do không có đà kéo, không có cơ sở sửa chữa. Ông Chung cho rằng, cùng với việc khuyến khích ngư dân đóng tàu lớn, cần phải đầu tư mở rộng cảng cá, nâng cấp ụ tàu kéo, mở rộng khu neo đậu cho gần 600 tàu 400CV trở lên. "Thực tế, để thiết kế một chiếc tàu vỏ thép mất mấy tháng, trong khi ngân hàng giải ngân chậm. Còn về tàu vỏ gỗ, hiện chưa có quy chuẩn cũng như mẫu thiết kế tàu phù hợp với nguyện vọng của ngư dân" - ông Chung giãi bày.
Phường Phước Lộc, thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận là địa phương có 365 tàu đánh bắt hải sản, công suất bình quân 184,9CV. Tuy nhiên, vì nhiều lý do, số lượng ngư dân đăng ký đóng tàu theo Nghị định 67 còn khá khiêm tốn. Cho đến cuối năm 2015, tại địa phương này mới có 7 hộ đăng ký vay vốn theo Nghị định 67. Trong đó, chỉ có 1 chủ tàu đăng ký đóng mới, 3 tàu đăng ký nâng cấp và 3 hồ sơ chờ xét duyệt.
Ông Huỳnh Ngọc Xuân, Chủ tịch UBND phường Phước Lộc cho biết, nguyên nhân khiến ngư dân chưa tha thiết đóng tàu lớn là do vốn đối ứng của chủ tàu thuyền không đáp ứng được theo quy định của Nghị định 67. Hơn nữa, cảng La Gi không phù hợp cho tàu vỏ sắt neo đậu và dịch vụ hậu cần cho tàu vỏ sắt chưa có.

Nghị định 89 mới gỡ vướng được một phần
Để khắc phục bất cập của Nghị định 67, ngày 7-10-2015, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị định 89/2015/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 67. Cụ thể, chủ tàu được thực hiện một hoặc nhiều nội dung: Thay máy tàu; gia cố bọc vỏ thép; bọc vỏ vật liệu mới; mua ngư lưới cụ, trang thiết bị hàng hải, trang thiết bị khai thác, máy móc trang thiết bị bảo quản sản phẩm, trang thiết bị bốc xếp hàng hóa. Đồng thời, bổ sung trường hợp đóng mới tàu vỏ vật liệu mới vào diện được hưởng chính sách tín dụng như tàu vỏ thép. Thời hạn cho vay hỗ trợ lãi suất được bổ sung thêm nội dung 16 năm đối với đóng mới tàu vỏ thép hoặc vỏ vật liệu mới.
Nghị định 89 bổ sung nội dung mới của Điểm c, Khoản 1, Điều 4 của Nghị định 67, đó là: "Đối với trường hợp gia cố bọc vỏ thép; bọc vỏ vật liệu mới; mua ngư lưới cụ, trang thiết bị hàng hải, trang thiết bị khai thác, máy móc trang thiết bị bảo quản sản phẩm, trang thiết bị bốc xếp hàng hóa: Chủ tàu được vay vốn ngân hàng thương mại tối đa 70% tổng giá trị nâng cấp với lãi suất 7%/năm, trong đó, chủ tàu trả 3%/năm, ngân sách Nhà nước cấp bù 4%/năm". Nghị định 89 cũng quy định rõ: "Tàu cá đóng mới phải sử dụng máy thủy mới; trường hợp nâng cấp máy tàu có thể sử dụng máy thủy mới hoặc máy thủy đã qua sử dụng theo quy định". Nghị định 89 cũng cho thí điểm cơ chế hỗ trợ một lần sau đầu tư.
Có thể nói, Nghị định 89 đã mở rộng phạm vi, nội dung, đối tượng được vay vốn đóng tàu vỏ thép, tàu công suất lớn. Tuy nhiên những điều chỉnh đó mới chỉ giải quyết được một phần những vướng mắc mà ngư dân gặp phải như đã nói ở phần trên. Thực tế, đã có một số tàu vỏ thép được ngư dân trả lại cho nhà máy do đánh bắt không hiệu quả mà nguyên nhân chính là do thiết kế tàu không phù hợp với ngành nghề của ngư dân. Điều đó cũng cho thấy, cần phải thiết kế nhiều mẫu tàu phù hợp với ngành nghề, ngư trường đánh bắt của ngư dân. Việc đầu tư tàu hiện đại phải gắn với trang bị công nghệ đánh bắt hiện đại và đào tạo ngư dân sử dụng thành thạo những công nghệ đó mới phát huy được hiệu quả tàu khai thác hải sản xa bờ.
Bích Nguyên







