Biên phòng - Trong căn nhà ngói khang trang của cặp vợ chồng Lo Văn Tới và Lo Thị Nga tọa lạc ngay giữa bản Văng Môn (xã Nga My, huyện Tương Dương, Nghệ An), tiếng xập xình phát ra từ bộ đầu âm thanh xen lẫn các cuộc mua bán, trao đổi hàng hóa của người dân trong bản với chủ nhà tạo nên một âm thanh sống động. Lần đầu tiên chúng tôi được nghe câu chuyện về những đổi thay, khởi sắc của người Ơ Đu - tộc người có số dân ít nhất Việt Nam nhờ một cuộc thiên di lịch sử.

"Quả ngọt" chính sách
Cách đây đã rất lâu, ở vùng lưu vực sông Nậm Nơn, Nậm Mộ (thuộc vùng núi phía Tây Nghệ An ngày nay) và một phần ở trên đất Lào (bao gồm Xiêng Khoảng, Hủa Phăn) từng tồn tại một tiểu quốc nhỏ bé có tên là Bồn Man của tộc người Ơ Đu, đứng đầu là thủ lĩnh Lư Cầm Công. Người dân ở tiểu quốc này sống bằng nghề làm ruộng, phát nương làm rẫy, chài lưới trên sông.
Theo thư tịch cổ tiền nhân để lại, khoảng cuối thế kỷ XIV, Lữ Cầm Công cấu kết với một số tiểu quốc khác làm loạn, quấy nhiễu vùng đất phía Tây Nghệ An của Đại Việt. Nhận được tin báo, vua Lê Thánh Tông cử 2 tướng là Trịnh Công Lệ và Lê Thọ Vực đem quân đến dẹp loạn. Ngay sau đó, thủ lĩnh Lữ Cầm Công bị giết và tiểu quốc Bồn Man được sát nhập vào Đại Việt dưới cái tên xứ Trấn Ninh. Gặp phải thời loạn lạc, tộc người Ơ Đu bị tan tác, mãi về sau mới tụ họp nhau tại vùng lưu vực 2 con suối Huồi Puông, Huồi Xan, thuộc xã Kim Đa, huyện Tương Dương ngày nay.
Thời gian đi qua, cuộc sống du canh, du cư trên những sườn núi thuộc các xã Luôn Mai, Kim Tiến, Kim Đa, Hữu Khuông với phương thức sản xuất "đốt, chọc, tỉa" của người Ơ Đu ngày càng khó khăn do rừng ngày càng bị thu hẹp, đất đai bạc màu. Cách đây đúng một thập kỷ, để phục vụ dự án thủy điện Bản Vẽ, cũng là nhằm giúp người dân Ơ Đu hòa nhập cộng đồng, Nhà nước đã tính đến việc dời dân, tổ chức tái định cư để xây dựng cuộc sống mới phù hợp. Bản Văng Môn với 92 hộ/423 nhân khẩu sống quây quần bên nhau ra đời từ đó.
10 năm, quãng thời gian không dài nhưng cũng đủ để làm cho cuộc sống của người Ơ Đu "lột xác", mà trước hết là trong nhận thức về xã hội, làm ăn kinh tế. Điều này được thể hiện bằng chính lời tâm sự của anh Lo Văn Tới, một trong những người biết buôn bán đầu tiên của dân tộc Ơ Đu, đại ý: Cuộc sống của người Ơ Đu trước đây khổ lắm! Vì thế, giữa năm 2006, khi nghe cán bộ vận động ra nơi ở mới để tái định cư, hầu hết người dân Ơ Đu đang sinh sống rải rác ở nhiều nơi trong núi rừng đều nhất trí ngay. Sự khởi đầu bao giờ cũng khó khăn, nhưng nhờ Nhà nước chia đất, chia rừng sản xuất, bảo vệ, lại hỗ trợ cho mỗi hộ một con bò giống, cây trồng cùng vật tư, phân bón nên người Ơ Đu yên tâm xây dựng cuộc sống mới…
"So với nơi ở cũ của các hộ dân người Ơ Đu, thì ở Văng Môn còn hơn cả giấc mơ vì giao thông thuận lợi, chỗ nào cũng trồng được cây lúa nước cùng những cây trồng khác cho năng suất cao. Là Bí thư chi bộ, mình cố gắng làm nhiều, nói cho dân bản hiểu rằng, chính nhờ sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, dân mình mới luôn có nồi cơm đầy, hạt thóc, hạt gạo đầy nương, con cái được đi học, có điện sinh hoạt, ti vi, xe máy…" - Bí thư Chi bộ bản Văng Môn, Lo Văn Tình tiếp lời anh Lo Văn Tới.
Theo Bí thư Tình, được Nhà nước hỗ trợ, giúp đỡ trong quá trình định cư tại nơi ở mới, người Ơ Đu ở Văng Môn đã có đời sống tiến bộ hơn trước rất nhiều. Đồng bào giờ đã biết khai hoang, trồng lúa nước, chuyện học hành của con trẻ được cả bản quan tâm, 100% trẻ em đến tuổi đều được đi học. Hầu hết các em trong bản đều học hết cấp trung học phổ thông, đặc biệt, cả bản có 8 em đang theo học tại các trường đại học, cao đẳng. "Tiến bộ nhiều rồi, nhưng vẫn lo vì đồng bào Ơ Đu mình giờ ít người còn biết hát tiếng dân tộc, biết tổ chức lễ hội truyền thống. Nếu không có sự giúp đỡ kịp thời của Nhà nước, mai này người già Ơ Đu mất đi hết thì nỗi lo đồng bào có còn biết mình là người Ơ Đu sẽ trở thành thực tế…" - Bí thư Chi bộ Lo Văn Tình bày tỏ nỗi âu lo phía sau những "quả ngọt" từ cuộc thiên di lịch sử của đồng bào mình.

Đắp bồi bản sắc Ơ Đu
Cùng nỗi lo của Bí thư Chi bộ Lo Văn Tình về những nét riêng văn hóa Ơ Đu đang bị mai một, già Lo Văn Cường chia sẻ: "Bây giờ ở bản chỉ có những người già mới biết hát, múa các làn điệu dân gian. Một số nhạc cụ dân tộc không còn khiến việc thể hiện các bài hát múa của dân tộc Ơ Đu không mang màu sắc như xưa nữa".
Theo già Cường, trước thực trạng bản sắc văn hóa tuyền thống về ngôn ngữ, trang phục truyền thống, các lễ hội, nhạc cụ, nghề thủ công của người Ơ Đu đã bị "lai tạp" với nhiều dân tộc khác trên địa bàn sinh sống, để bảo tồn và phát huy văn hóa của người Ơ Đu, các ban, ngành chức năng cần dựa vào chính đồng bào. Phải làm sao để các thế hệ người Ơ Đu thấy những gì sắp mai một, mất đi thì có ý thức nâng niu, gìn giữ. Muốn vậy, cơ quan chức năng cần phối hợp với các già làng, trưởng bản, người có uy tín, tổ chức sưu tầm, liệt kê những giá trị văn hóa của người Ơ Đu để có giải pháp bảo tồn hiệu quả.
"Lý luận" của già Lo Văn Cường quả thực rất phù hợp với định hướng của huyện Tương Dương và tỉnh Nghệ An trong việc gợi mở cách thức bảo tồn văn hóa của đồng bào dân tộc Ơ Đu thông qua công tác nghiên cứu, sưu tầm di sản văn hóa. Những việc làm này đã được xác định là cần thông qua việc phối hợp giữa các nhà khoa học với đồng bào dân tộc bản địa. Chúng tôi cho rằng, một vấn đề quan trọng không kém trong việc giúp đồng bào Ơ Đu đắp bồi bản sắc của dân tộc mình là phải xác định thứ tự ưu tiên xem trong các lĩnh vực gắn bó với đời sống đồng bào như: Tín ngưỡng, dân ca, dân vũ, nhà ở, trang phục, ngôn ngữ, đan lát, dệt vải… cái gì là khâu đột phá thì làm trước.
Quá trình bảo tồn cũng cần gắn với phát triển du lịch giúp đồng bào có thêm thu nhập, để những đồng tiền kiếm được - đến lượt nó lại phát huy tác dụng thông qua việc giúp bà con nâng cao mức sống, có thêm điều kiện duy trì cuộc sống văn hóa đậm đà bản sắc của dân tộc mình. Tất nhiên, vấn đề quan trọng nhất là cần tạo ra một động lực để đồng bào Ơ Đu, đặc biệt là thế hệ cao tuổi tự thân nuôi dưỡng, chỉ bảo con cháu giữ gìn bản sắc văn hóa truyền thống của dân tộc mình. Có như vậy, những đổi thay, khởi sắc về mặt kinh tế của người Ơ Đu - tộc người có số dân ít nhất Việt Nam nhờ một cuộc thiên di lịch sử mới không tách rời những vốn quý văn hóa mà họ đã từng sở hữu.
Phương Uyên







