Biên phòng - Trong chuyến điền dã đến Lìm Mông - bản người Mông ở xã Cao Phạ (huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái) cách đây 3 năm, từ thành phố Yên Bái, chúng tôi chạy xe máy mất chừng 3 giờ đồng hồ, nhưng từ trung tâm xã đến nơi cần đến, thì phải “tiêu” thêm hơn một giờ nữa. Còn nhớ, trên đoạn đường hẹp lổn nhổn đá, lại nhiều dốc, chỉ dài chưa đầy hai cây số mà sao cảm giác Lìm Mông thật xa xôi, cách trở.

Ngày ấy ngồi sau xe máy, mặc dù rất tin tưởng vào thâm niên hơn chục năm lăn lộn ở các bản vùng cao của anh bạn đồng nghiệp người địa phương, nhiều lúc tôi vẫn thấy sợ đến dựng tóc gáy khi băng đèo, vượt dốc vào Lìm Mông. Lần này trở lại Lìm Mông, cảm giác của người khách lữ hành “đích thị miền xuôi” - là tôi, đã hoàn toàn đổi khác.
Giàu truyền thống nhưng... nghèo
Từ trung tâm xã Cao Phạ, chỉ mất chừng mươi phút xe chạy bon bon trên cung đường bê tông nông thôn mới phẳng phiu, uốn lượn như dải lụa khổng lồ vắt qua những cánh rừng chúng tôi đã có mặt tại bản Lìm Mông. Gặp chúng tôi, già Lý Sáy Dờ, một bậc cao niên của bản Lìm Mông, là con út của Đội trưởng Đội du kích Khau Phạ Lý Nủ Chu năm xưa “đãi” khách phương xa bằng câu chuyện về “những chiến binh mây mù” thời kỳ kháng chiến chống Pháp.
Theo lời già thì Đội du kích Khau Phạ được thành lập vào tháng 10 năm 1946 tại bản Trống Tông Khúa trên đỉnh đèo Khau Phạ. Ban đầu, đội chỉ có 7 đội viên, với 3 khẩu súng kíp, dao nhọn và cung nỏ, do ông Giàng Khua Kỷ (trước đây là thống lý, được giác ngộ cách mạng, có uy tín trong cộng đồng) là Đội trưởng, các ông Lý Nủ Chu, Giàng Sống Tu, Giàng Sống Của trong Ban chỉ huy.
Sau khi ông Giàng Khua Kỷ bị giặc bắt, ông Giàng Sống Tu làm Đội trưởng, tiếp đó là cha của già Lý Sáy Dờ - ông Lý Nủ Chu đảm nhiệm nhiệm vụ này. Trải qua một thời gian chiến đấu, Đội du kích Khau Phạ phát triển rất nhanh về quân số, lúc đông nhất lên tới hơn 200 đội viên, trong đó chủ yếu là đồng bào Mông Cao Phạ. “Giàu truyền thống cách mạng nhưng sau khi có độc lập rồi, người Mông Cao Phạ, nhất là ở Lìm Mông vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn.
Tất cả cũng vì cái thế độc đạo, hiểm trở do bản nằm gọn trên đỉnh núi, đường lên có nhiều khe suối chắn ngang, mùa mưa thường bị chia cắt chỉ những chiếc xe máy dã chiến mới có thể vào được. Bên cạnh đó, cái nghèo khó còn bủa vây người Mông ở Lìm Mông, bởi nhận thức từ bao đời nay còn hạn chế, nhiều tập tục lạc hậu còn đè nặng lên vai đồng bào; số người trong bản biết đọc thông, viết thạo ngôn ngữ phổ thông chỉ đếm trên đầu ngón tay...” - Già Lý Sáy Dờ “tổng kết” về cái khó, cái nghèo của người Mông ở Lìm Mông mà già gọi là “nỗi khổ ngàn đời”.
Cũng theo già Lý Sáy Dờ, do đường vào chưa thuận, kéo theo bao điều thiệt thòi cho người Lìm Mông. Cũng do đi lại cách trở nên sản phẩm nông nghiệp làm ra không biết mang đi đâu tiêu thụ, dẫn đến sự thất học của người lớn cũng như bọn trẻ. Cho đến bây giờ, rất nhiều người lớn ở Lìm Mông không biết chữ. Đi vay vốn cán bộ ngân hàng phải cầm tay điểm chỉ vào bản khế ước vì khách hàng không đọc được. “Thiệt thòi nhiều lắm! Đồng bào thiếu kiến thức, trong khi khoa học - kỹ thuật phát triển ầm ầm. Giống ngô nào, giống lúa nào hợp với đất của mình, bà con cũng không biết, vì không đọc được chữ trên bao bì...” - Già Lý Sáy Dờ chia sẻ với chúng tôi.
Niềm vui xóa đói, khởi giàu
“Không biết chữ, không đọc được sách báo thì nghe đài, xem ti vi cũng bù lại phần nào. Nhưng điện lưới chưa đến, cả bản chỉ có một nhà dùng ti vi do có máy thủy điện nhỏ, còn lại chỉ có chiếc đài là cầu nối với bên ngoài nên không học được những kiến thức tối thiểu. Mà đói khoa học kỹ thuật thì làm gì cũng khó...” - Anh Sùng Vảng Páo, một người dân trong bản phân bua với chúng tôi về quá khứ đói nghèo của bản Lìm Mông.
Nói rồi anh Páo cho biết thêm, nhờ Nhà nước xác định “điện, đường, trường, trạm” là 4 yêu cầu thiết yếu của kết cấu hạ tầng vùng đặc biệt khó khăn, trong đó có những bản rẻo cao như Lìm Mông. Từ ngày có điện mà bộ mặt của bản đã “lột xác” so với trước đây. Với chính sách đãi ngộ đặc biệt của Đảng và Chính phủ đối với đồng bào các dân tộc thiểu số, đến nay, con em bản Lìm Mông không còn phải vất vả trên con đường đến trường. Mỗi tối về, cả bản lại chan hòa ánh điện...
Theo tìm hiểu của chúng tôi, ở độ tuổi trung niên, Sùng Vảng Páo là một trong những người làm ăn giỏi nhất Lìm Mông. Làm ruộng nước, trồng rừng, chăn nuôi, đó là những thứ mang lại nguồn thu lớn cho gia đình anh Páo. Hiện, gia đình anh sở hữu 1 con bò, 3 con trâu, 3 con lợn nái, 7 con lợn thịt cùng rất nhiều nương ruộng. Không kể nguồn thu từ kinh tế đồi rừng, nhờ biết thâm canh tăng vụ, năng suất bình quân đạt trên 40 tạ/ha, mỗi năm, gia đình anh Páo thu về gần 9 tấn thóc.
“Đất đai ở Lìm Mông rất màu mỡ. Cứ nhìn cây cối ở đây thì biết, từ hoa màu, đến cây lúa, cây ăn quả, rồi rừng trồng đều mỡ màng, xanh mướt. Đồng bào mình cấy lúa nước, làm nương và cũng bắt đầu bảo nhau trồng thêm ngô, sắn, đặc biệt là cây cải dầu. Được cái là bà con Lìm Mông rất quý đất, cần cù làm ăn nên ở đây không còn hộ đói...” - Anh Páo chia sẻ rồi dẫn chúng tôi qua nhà Bí thư Chi bộ bản Lìm Mông Lý Tồng Lử đúng lúc anh vừa đi một vòng quanh bản “để xem gần 200 hộ dân trong bản cuộc sống có vấn đề nổi lên không”.
“À mà còn phải nắm tình hình điểm trường bán trú trong bản tình hình thế nào. Vui lắm! Mọi thứ đều tốt cả. Dù đời sống gặp nhiều khó khăn, trình độ dân trí chưa đồng đều, nhưng nhiều năm nay, người Mông Lìm Mông mình luôn luôn chấp hành tốt mọi chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước...” - Bí thư Lử bày tỏ sự tự hào.

Ngồi “đàm đạo” ở nhà Bí thư Lý Tồng Lử được chừng nửa giờ đồng hồ thì Trang A Của, người mà theo anh Lử thì có “năng khiếu” làm dịch vụ trao đổi, mua bán hàng hóa và chăn nuôi giỏi nổi tiếng vào hàng nhất nhì Lìm Mông sang chơi. Thấy chúng tôi trao đổi với nhau về câu chuyện xóa đói, khởi giàu của người Lìm Mông, anh Của lúc lắc cái đầu sau khi “làm” một ngụm lớn rượu ngô, rồi nói như “dao chém thớt”, đại ý: Ở Lìm Mông bây giờ, lúa ngô thì đủ để người ăn và chăn thêm lợn, gà phục vụ đời sống gia đình, còn bò mới thực sự là hàng hóa có giá trị. Nhiều nhà lúc đầu, chỉ có một cặp bò nhờ vay vốn ngân hàng mà mua được, sau 5 năm, đàn bò nhân lên gấp mấy lần. Có gia đình xây nhà hết mấy trăm triệu, cũng từ tiền bán bò và bán ngô, sắn, lợn gà tích cóp lại.
“Không thiếu thóc gạo, chỉ thiếu tiền” - như lời anh Của nói, nhưng chắc rằng, khi 10ha cải dầu trên những diện tích đất ruộng hai vụ đã được các hộ ở Lìm Mông đăng ký với UBND xã để trồng bắt đầu cho thu hái thì đồng tiền cũng không còn là của hiếm đối với bà con ở đây nữa.
Thay lời kết
Thời gian lưu lại Lìm Mông, chúng tôi được biết, bản được xếp vào diện đặc biệt khó khăn của xã Cao Phạ, vẫn còn trên 50% hộ nghèo, nhưng như vậy đã là mừng lắm, bởi cách đây mấy năm, số hộ nghèo trong bản còn chiếm tới trên 90%. Mặc dù vậy, đa số bà con đã được ở trong những ngôi nhà gỗ chắc chắn, rộng rãi và sạch sẽ, khác hẳn với các ngôi nhà của đồng bào Mông ở nơi khác.
Tôi biết, ở trong những ngôi nhà khang trang giữa trập trùng cây lá, hẳn đồng bào vui cái bụng lắm. Vui là phải vì lúc này đây, những người trồng lúa, trồng cải dầu, chăn nuôi bò giỏi như Thào Trờ Rùa, Sùng Vảng Chông, Thào Sái Chú, Sùng Vảng Páo... đang tích cực vận động bà con làm theo mình. “Ở đây đất rộng, việc chăn nuôi, trồng trọt rất thuận lợi. Vấn đề chỉ còn là nguồn vốn ban đầu. Tôi muốn đề nghị xã, huyện tạo điều kiện giúp bà con được vay thêm vốn để phát triển sản xuất. Chúng tôi không dám vay tiền về tiêu đâu” – Thay mặt người dân trong bản, ông Thào Trờ Rùa nói vậy, như để khẳng định cải quyết tâm làm giàu cùng với những hy vọng mới của người Lìm Mông.
Hoàng Phương Uyên







