Đường dây nóng: 0983449277 - 0912325336Thứ hai, 18/05/2026 12:26 GMT+7

Ký ức của một người thầy

Biên phòng - Tuy năm nay đã hơn 80 tuổi, nhưng ông Nguyễn Trọng Trình vẫn minh mẫn và mạnh khỏe. Trải qua 42 năm quân ngũ, ông đã từng đảm nhiệm nhiều cương vị công tác như: Chính trị viên đại đội thuộc Trung đoàn 600 Công an nhân dân vũ trang (CANDVT), Trưởng khoa Công tác Đảng - Công tác chính trị Trường Sĩ quan CANDVT, Chính ủy Trung đoàn 12 CANDVT, Hiệu phó Trường Sĩ quan Biên phòng… Trong cuộc đời binh nghiệp, ông có rất nhiều kỷ niệm, song kỷ niệm đáng nhớ nhất là thời gian công tác ở Trường Sĩ quan CANDVT, nay là Học viện Biên phòng.

 5139.gif
Ông Nguyễn Trọng Trình.

Năm 1965, sau khi tốt nghiệp Học viện Chính trị, ông được điều về Trường Sĩ quan CANDVT làm giáo viên khoa Công tác Đảng - Công tác chính trị. Thời gian đó, cơ sở vật chất của nhà trường còn nghèo nàn, thiếu thốn, chủ yếu là nhà tranh, vách nứa. Những năm 60 của thế kỷ 20, đế quốc Mỹ ném bom miền Bắc, nhà trường phải đi sơ tán ở 2 xã Trung Hưng và Tích Giang, có thời gian lên cả Hòa Bình. Nhiệm vụ của nhà trường rất nặng nề, đào tạo sĩ quan theo 4 chuyên ngành: Chỉ huy bảo vệ biên giới, cửa khẩu, trinh sát, nội địa, nhằm đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ biên giới, bảo vệ các cơ quan lãnh đạo của Đảng, Nhà nước ở Trung ương và địa phương, chi viện cán bộ cho an ninh vũ trang ở miền Nam...

Những năm chiến tranh và thời bao cấp, tài liệu, giáo trình để giảng dạy, học tập chủ yếu in rô-nê-ô và đánh máy; giấy, mực in không đủ, số lượng ít, chưa đáp ứng được yêu cầu dạy, học. Đời sống vật chất và tinh thần của cán bộ giáo viên, học viên vô cùng thiếu thốn, gạo không đủ ăn, phải ăn cả bo bo, mỳ ép. Nhưng, vượt lên tất cả là tấm lòng say mê, tâm huyết với nghề của giáo viên cùng tinh thần ham học, ý chí vươn lên của học viên. Ngoài giờ lên lớp, giáo viên lại xuống đơn vị phụ đạo, dự giờ thảo luận của học viên. Ông nhớ mãi thời sơ tán trong rừng sâu Hòa Bình, nhất là hình ảnh người thầy lấy tấm phên nứa làm bàn để phụ đạo cho học viên bên ngọn đèn dầu. Khi học viên chưa nắm được bài, giáo viên chưa yên tâm, kết quả học tập chưa cao, giáo viên phải tìm nguyên nhân để khắc phục. Bất kể mùa đông giá lạnh, hay mùa hè nóng bức, đêm đêm, bên ngọn đèn dầu, các thầy say mê biên soạn giáo án, đọc tài liệu, tập giảng, bình giảng, tìm phương pháp giảng dạy hiệu quả nhất.

Ông Trình cho biết, dưới mái Trường Sĩ quan CANDVT năm xưa, các chuyên án chống gián điệp biệt kích, như P45, P59... đã được các giáo viên trinh sát, biên phòng nghiên cứu viết thành báo cáo thực tế, để có những dẫn chứng sinh động trong bài giảng. Những bài giảng của giáo viên chính trị Lê Cảnh, Hoàng Minh Giác được chuẩn bị công phu, sâu sắc; những giờ giảng về kỹ thuật hình sự của giáo viên Trần Sỹ Hải, về đối sách của Tăng Công, triết, kinh tế học của Nguyễn Văn Huy, về quản lý, bảo vệ biên giới, kiểm soát cửa khẩu của Nguyễn Thành Lũy, Nguyễn Vãng; những buổi huấn luyện vũ thuật của các thầy "Sáu Đồng, Sáu Chì"... đã để lại những ấn tượng sâu sắc trong học viên các khóa.

Những thầy giáo - xạ thủ: Nguyễn Văn Mão, Nguyễn Ngọc Anh, Trần Ngọc Phan đã làm chủ các loại súng RPĐ, AK, CKC... làm cho học viên thán phục khi chứng kiến các thầy thực hành động tác bắn đạn thật, với tỷ lệ đạn trúng mục tiêu cao. Những giờ giảng chiến thuật phòng ngự, phản kích, truy lùng... sát với thực tế của các thầy Nguyễn Văn Giản, Nguyễn Văn Thủy luôn gây ấn tượng cho học viên.

Trong cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam năm 1978 và phía Bắc năm 1979, hàng chục giáo viên đã đi thâm nhập thực tế ở những địa bàn nóng bỏng không khí chiến tranh và đi tăng cường cho các đơn vị chiến đấu. Bản thân ông cũng được điều đi làm Chính ủy Trung đoàn 12, chiến đấu ở biên giới phía Bắc. Trung úy Võ Đại Huệ, nguyên là giáo viên khoa Quân sự, được nhà trường cử đi tăng cường cho Trung đoàn 16 đã anh dũng hy sinh trong chiến đấu bảo vệ biên giới và được truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

Một trong những ấn tượng để lại trong ông, là tinh thần say mê trong học tập và rèn luyện của học viên, đặc biệt là thái độ học tập, thi cử nghiêm túc, nghĩa tình thầy trò trong sáng. Ngày ấy, học viên đến trường phải lao động từ một đến hai tháng để xây dựng nhà ở, đào giếng, đào ao, đóng gạch, trồng lúa, nuôi trâu, bò... đời sống gian khổ, nhưng vẫn học tập và rèn luyện tốt. Ông vẫn còn nhớ, những ngày thi tốt nghiệp, từng tốp học viên ra sân vận động, mang theo đèn dầu, ôn bài rất hăng say. Hình ảnh học viên đeo gạch lên tay để tập bắn súng ngắn, treo bao cát để luyện tập vũ thuật, từng đôi bạn học tập, truy bài dưới ánh trăng đêm...

Những năm chiến tranh ác liệt, 100% học viên tốt nghiệp ra trường đều hăng hái lên đường nhận nhiệm vụ. Họ đã có mặt ở tuyến lửa Quảng Bình, Vĩnh Linh, miền Tây Nghệ An, vùng rừng núi Tây Bắc xa xôi, gian khó... Có người vượt Trường Sơn vào miền Nam chiến đấu; có người vừa ra trường đã xung phong vào biên giới Tây Nam, ra biên giới phía Bắc đang vang rền tiếng súng chống quân xâm lược; nhiều người đã vĩnh viễn nằm lại nơi biên cương, vì chủ quyền lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc.

Điều mà ông Trình luôn cảm thấy tự hào là trong những tháng năm gian khổ, thiếu thốn đó, nhà trường đã đào tạo được hàng nghìn cán bộ sĩ quan có bản lĩnh chính trị vững vàng, có trình độ chuyên môn nghiệp vụ giỏi, có sức khỏe, ý thức kỷ luật cao, tăng cường cho lực lượng thực hiện tốt các nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước giao cho. Điều ông Trình càng tự hào hơn là nhiều đồng chí được giáo dục, đào tạo dưới mái trường này sau đó đã trở thành Anh hùng, tướng lĩnh, lãnh đạo chủ chốt trong lực lượng BĐBP và các lực lượng khác. 

Giờ đây, mặc dù ông đã được nghỉ hưu, nhưng ông vẫn thường xuyên quan tâm tới sự trưởng thành, lớn mạnh của Học viện Biên phòng. Điều làm ông phấn khởi là đội ngũ giảng viên của nhà trường hôm nay đã có nhiều người là Phó Giáo sư, Tiến sĩ, Thạc sĩ; cơ sở vật chất, tài liệu, giáo trình phong phú; giảng đường, nhà làm việc, nhà ở của cán bộ, giáo viên, học viên khang trang, hiện đại; đời sống vật chất, tinh thần đầy đủ, phong phú... Đó là yếu tố quyết định nâng cao chất lượng đào tạo của Học viện, nhưng theo ông, điều quan trọng nhất vẫn là sự "tâm huyết của người thầy", yếu tố vô cùng quan trọng xây đắp nên "Đơn vị Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân".

Tạ Lý

Bình luận

ZALO