Biên phòng - Nhà thơ Mai Liễu là người dân tộc Tày, nổi tiếng với những vần thơ thấm đẫm tình yêu quê hương đất nước, đặc biệt là những vần thơ về đồng bào các dân tộc thiểu số vùng cao, biên giới. Thơ ông lặng lẽ với câu chữ hồn hậu, nguyên sơ của tình người miền núi, để rồi những câu chữ thấm hồn dân tộc ấy cứ đọng lại mãi trong lòng người.

Là người dân tộc thiểu số, những trải nghiệm cuộc đời cho ông nhiều vốn sống vùng miền núi và dân tộc. Thường xuyên tiếp xúc với đồng bào các dân tộc thiểu số ở biên giới; hiểu khá rõ đời sống, tâm tư, khát vọng của bà con... những tập quán, lối ứng xử, nếp văn hóa của họ cũng ít nhiều ảnh hưởng đến cảm xúc và sáng tác của nhà thơ. Những vần thơ của ông luôn xoay quanh cuộc sống, lao động, chiến đấu, tập quán văn hóa của quê hương và dân tộc.
Ông quan niệm, nếu cứ viết theo cách mình đã viết thì không thoát ra khỏi lối viết sách vở, sáo rỗng, cần phải có cách cảm nhận mới, lối viết mới, thoát ra khỏi lối viết tả tình, tả cảnh vần vè, nhàn nhạt ấy. Do đó, trong thơ Mai Liễu nhắc nhiều đến đời sống cỏ cây, hoa lá, chim thú, sông suối, núi non; những nghịch lý của thiên nhiên và xã hội, lắng nghe và lý giải các hiện tượng xã hội chung quanh mình theo cách nhìn nhận của riêng mình. Cách nhìn nhận của nhà thơ phải là cách cảm nhận riêng, độc đáo.
Bài thơ “Tung còn” là một thí dụ: "Quả còn tua đỏ tua xanh/ tốp người tung lên/ tốp người đón lấy/ ném lên quả còn cầu may/ đón lấy quả còn cầu lộc/ bao cặp mắt cầu vồng dõi lên trời/ đau đáu cầu tài cầu phúc/ Hai cặp mắt tình tứ trông nhau/ quả còn trên tay mê ngủ/ chả nhớ mình đeo tua đỏ tua xanh...”.
Bài "Quả và chim" là một triết lý nhân sinh: "Chim khướu ăn quả dáy chín đỏ/ tiếng hót vang/ chim họa mi ăn quả cà đưa chín vàng/ tiếng hót trong... Chim cắt rình bắt họa mi/ diều hâu rình bắt khướu/ chẳng ai nghe thấy chúng hót bao giờ...".
Hình tượng người mẹ được phản ánh khá đậm nét trong các sáng tác của nhà thơ. Người mẹ trong thơ Mai Liễu vừa là một hình tượng cụ thể, sinh động (trong bài Gọi vía), vừa là hình ảnh đại diện cho những người mẹ miền núi nói chung: Lam lũ, chịu thương chịu khó, hy sinh, giàu lòng nhân ái...(trong các bài Lặng thầm, Mưa chiều, Lời mẹ, Mùa màng của mẹ...).
Bác Hồ cũng là một đề tài lớn trong thơ Mai Liễu. Ông phản ánh khá đa dạng những ký ức về Bác của đồng bào Tân Trào, đồng bào chiến khu kháng chiến với Bác Hồ. (Trước lán Nà Lừa, Bữa cơm trưa bên bờ Khuôn Pén, Đá Thề, Nhớ Kim Quan...), hoặc khắc họa hình ảnh lãnh tụ trong hy sinh gian khổ của người chiến sĩ đi giữ nước: "Nhớ Bác Hồ con vào lăng viếng Bác/ Người gầy guộc như vừa lui cơn sốt/ mang theo từ lán Nà Lừa thuở Tân Trào mở nước/ Từ triệu cơn sốt rét rừng của chiến sĩ vượt Trường Sơn" (Đã lâu chưa về lại Tân Trào).
Nhà thơ chia sẻ: “Là người dân tộc, có thể viết bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau, dù không viết bằng tiếng mẹ đẻ thì cái hồn của người dân tộc phải thấm vào hình tượng, câu chữ trong bài thơ. Mỗi người có một cách đi riêng”. Do đó, nhà thơ đã mày mò cả chục năm trời, đốt đi cả mấy chục bài thơ trước đó để trở về những gì thân thiết nhất, gắn bó nhất của tuổi thơ nghèo khó nơi xóm núi quê nhà.
"Tiếng hoãng kêu thảng thốt đồi nương
Con đường mòn hoa bìm buông tím nụ
Em đi cấy gặp ngày mưa lũ
Qua ngòi ai dắt nước lên..."
(Bên thác)
Với nhà thơ Mai Liễu, thơ chỉ bắt đầu khi tứ thơ vụt đến, đi liền với nó là ý tưởng sáng lên một cách cụ thể. Ý tưởng phải được bồi đắp bởi những suy tưởng qua các hình tượng, hình ảnh giản dị, thân thuộc với người sáng tác. “Tôi không cố làm thơ trong lối viết bằng chữ đơn thuần, chạy theo lối viết hình thức cầu kỳ, tối nghĩa. Hình như người miền núi suy nghĩ vốn mộc mạc, chất phác, chân thành nhưng thật thà quá, thô quá thì cũng không còn chất thơ nữa”.
Trong cuộc đời sáng tác của mình, nhà thơ Mai Liễu đã để lại nhiều tác phẩm có giá trị. Trong đó có một số tác phẩm đoạt giải của các Hội Văn học nghệ thuật. Ông cũng được tặng nhiều giải thưởng văn chương quan trọng viết về dân tộc thiểu số. Tiêu biểu như: Giải B Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam cho các tập: “Vẫn còn mùa thổ cẩm” năm 2001; “Giấc mơ của núi” năm 2002; “Bếp lửa nhà sàn” năm 2005; “Hương sắc miền rừng” năm 2008; “Núi vẫn còn mưa” năm 2013.
Nhà thơ Mai Liễu từng làm Chuyên viên Ban Dân tộc Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Thường trực Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Hà Tuyên và Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Tuyên Quang, Tổng Biên tập báo Tân Trào, Phó Tổng Biên tập thường trực Tạp chí Văn hóa các dân tộc Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam. Ủy viên Ban Thường vụ Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam khóa III, IV, V...
Nhà thơ Mai Liễu luôn tâm niệm: “Làm thơ là tìm cho được cái riêng trong giọng tâm tình của mình. Hô hào là điều xa lạ với tôi. Không phải cứ có "phong trào" là có thơ. Thơ nhất thiết phải chân thành, giản dị, có cảm xúc và ý tưởng mở ra nhờ óc suy tưởng từ người đọc. Thơ tối kỵ sự đơn nghĩa, nông cạn, hời hợt và giả tạo”.
Hồng Hà






