Biên phòng - Thiếu tướng Cao Thượng Lương, SN 1928, tại Diễn Châu, Nghệ An, trong một gia đình giàu truyền thống cách mạng. Bố ông là giáo viên dạy cấp I, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, tham gia Thanh niên Cách mạng đồng chí hội (năm 1927), bị tù 3 lần ở nhà lao của thực dân Pháp (2 lần ở nhà lao Vinh, 1 lần ở nhà lao Thừa Thiên Huế). Mẹ ông làm nghề dệt vải thủ công ở làng. Đầu năm 1959, ông đang làm Trưởng ban Tuyên huấn Sư đoàn 350 thì được điều sang làm Trưởng phòng Tuyên huấn, Cục Chính trị Công an nhân dân vũ trang (CANDVT).
![]() |
| Thiếu tướng Cao Thượng Lương. |
Năm 1963, ông được phong hàm Trung tá, đảm nhiệm chức vụ quyền Chính ủy và Bí thư Đảng ủy trường Sĩ quan CANDVT (nay là Học viện Biên phòng). Công tác ở trường Sĩ quan 5 năm, ông được điều trở lại Cục Chính trị làm Phó Cục trưởng. Năm 1974, ông được phong hàm Thượng tá, rồi làm Cục trưởng Cục Chính trị. Năm 1979, được phong hàm Đại tá, là Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ CAVT Trung ương (trực thuộc Ban Bí thư Trung ương) và làm Bí thư Đảng ủy Cục Chính trị BĐBP. Ông nhớ lại, trong dịp Tổng kết 10 năm xây dựng lực lượng CAVT (1959-1969), ông và đồng chí Trịnh Trân (lúc đó là Tham mưu phó) được giao nhiệm vụ này. Giữa chừng, đồng chí Trân đi học trường Nguyễn Ái Quốc. Bản tổng kết vẫn được hoàn thành với sự chỉ đạo chặt chẽ của Bộ Tư lệnh và Thường vụ Đảng ủy CAVT Trung ương.
Trong lần chi viện CAVT cho miền Nam (tháng 3-1975), sau khi ta đánh bại địch ở Buôn Ma Thuột, Bộ Công an và Bộ Tư lệnh cử 3 đoàn vào nghiên cứu tình hình miền Nam. Ông được Bộ giao trách nhiệm cùng 17 anh em, bao gồm các cán bộ tham mưu, tác chiến, điện đài, quay phim, báo chí... nghiên cứu Liên khu 5 trong 4 tháng. Ông và đoàn đã làm việc với Khu ủy, Bộ Tư lệnh Khu 5 và Tỉnh ủy các tỉnh Khu 5 (bao gồm cả Tây Nguyên) vừa giải phóng, điện ra ngoài Bắc đưa lực lượng vào các tỉnh kịp thời trực tiếp bàn với địa phương về hệ thống tổ chức đồn, trạm biên phòng. Khu, tỉnh rất mừng có lực lượng bảo vệ biên giới những vùng địch vừa rút. Ông rất phấn khởi với công việc này.
Năm 1981, ông về công tác tại Học viện Quân sự cấp cao, đi học và tốt nghiệp Học viện Quân sự cao cấp (khóa 6), làm Trưởng bộ môn, Phó ban rồi Trưởng ban Nghiên cứu quân sự Trung Quốc. Sau đó, ông làm nghiên cứu sinh khóa 1 của Học viện Quân sự cao cấp, đây là khóa đầu tiên đào tạo Tiến sĩ của quân đội ta. Năm 1989, ông là một trong 3 người đầu tiên của quân đội bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ Khoa học quân sự về nghệ thuật quân sự Việt Nam.
Phát huy những truyền thống tốt đẹp của Quân đội nhân dân Việt Nam trong giai đoạn cách mạng mới, Phó Giáo sư, Tiến sĩ, Thiếu tướng Cao Thượng Lương luôn kiên định vững vàng về chính trị tư tưởng, tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, cùng với toàn quân, toàn dân vượt qua mọi khó khăn gian khổ, tiếp tục vững bước trên con đường nghiên cứu khoa học. Bằng những kiến thức về quân sự mà mình đã dày công học tập và đúc rút những kinh nghiệm thực tiễn để truyền dạy cho thế hệ trẻ tiếp nối sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Nhiều công trình nghiên cứu của ông về khoa học quân sự đã được Học viện Quốc phòng và nhiều trường trong toàn quân dùng làm tài liệu tham khảo đặc biệt phục vụ cho công tác nghiên cứu nghệ thuật quân sự.
Ngoài ra, ông đã viết 85 bài báo (có tính chất luận văn) về chiến tranh nhân dân, về tư tưởng Hồ Chí Minh, về chiến lược, chiến dịch, về quốc phòng toàn dân và xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, về Công an nhân dân, biên phòng và BĐBP... cho các tạp chí của Đảng và Nhà nước, trong đó có 43 bài viết về biên giới, biên phòng và BĐBP đăng trên các tạp chí: Quân đội nhân dân; Công an nhân dân; Nghiên cứu khoa học công an; Nghệ thuật quân sự Việt Nam; Khoa học quân sự Bộ Quốc phòng; Khoa học biên phòng; Hậu cần quân sự... Đặc biệt, từ khi có Nghị quyết Trung ương (NQ4, khóa X) về Chiến lược biển, ông đã viết 12 bài về biển và Luật Biển trên tạp chí Khoa học biên phòng và Khoa học quân sự Bộ Quốc phòng. Ông còn chủ biên và tham gia biên tập nhiều công trình khoa học cấp Bộ và cấp Nhà nước, trong đó có 2 báo cáo khoa học, báo cáo nhanh của công trình khoa học cấp Quốc gia về "Ổn định lâu dài biên giới quốc gia" mà ông đảm nhiệm là: "Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về ổn định lâu dài biên giới quốc gia"; "Vai trò nhân dân và công tác vận động quần chúng bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia". Bên cạnh đó, ông còn hướng dẫn một số nghiên cứu sinh và học viên cao học bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ và luận văn Thạc sĩ.
Ông là Ủy viên Hội đồng Chức danh Khoa học của Học viện Quốc phòng, đã tham gia nhiều Hội đồng chấm luận án Tiến sĩ và tương đương; Hội đồng xét công nhận Giáo sư, Phó Giáo sư, đề nghị Hội đồng Giáo sư cấp Nhà nước phê chuẩn. Ông đã làm phản biện nhiều công trình khoa học cấp Nhà nước. Như là phản biện hai công trình: "Nghiên cứu một số vấn đề chiến lược trong lịch sử 30 năm của Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (1945-1975)"; "Ổn định lâu dài biên giới quốc gia" (1999) của Bộ Tư lệnh BĐBP. Năm 1990, ông được phong quân hàm Thiếu tướng. Năm 1991, ông được phong hàm Phó Giáo sư và làm Tổng biên tập tạp chí Nghệ thuật quân sự Việt Nam cho đến lúc nghỉ hưu (1998).
Nhớ lại những kỷ niệm xưa ở trường Sĩ quan CANDVT (nay là Học viện Biên phòng), ông vẫn thấy bùi ngùi, xúc động. Ngày mới thành lập trường, ông phải đi xin từng thước đất, động viên học viên, cán bộ, chiến sĩ nhà trường đào ao, thả cá, trồng cây rồi xây dựng thành ngôi trường với nhà tranh, vách đất. Cơ sở vật chất thiếu thốn, lãnh đạo và học viên tự xoay xở từ cái ăn, cái mặc đến chỗ ở, chỗ học hành... Nhiều thế hệ học viên ra trường đã trở thành những cán bộ tin cậy, có bản lĩnh chính trị vững vàng, những người chỉ huy xuất sắc ở nhiều tỉnh, thành và cơ quan như: Đồng chí Nguyễn Kim Vang, học viên "Đại đội Sao đỏ" (khóa II). Sau khi tốt nghiệp, đồng chí Vang được giao nhiệm vụ công tác trong Ban An ninh tỉnh Phú Yên. Trong một trận chiến đấu chống càn quét không cân sức do địch đông gấp bội, đồng chí đã chỉ huy đơn vị đánh trả quyết liệt. Trước tình thế đó, địch huy động lực lượng vây hãm, đồng chí xung phong mở đường máu cho đồng đội và đã hy sinh, được Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam truy tặng Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Đồng chí Sùng Mi Chơ, dân tộc Mông (khóa II) được Tỉnh ủy Hà Giang tín nhiệm chuyển sang làm Chủ tịch huyện Đồng Văn...
Ngôi trường mà Phó Giáo sư, Tiến sĩ, Thiếu tướng Cao Thượng Lương gắn bó, xây dựng và phát triển, ngày nay đã trở thành một Học viện khang trang, cơ sở vật chất hiện đại, đầu ngành chuyên đào tạo sĩ quan và nhân viên các chuyên ngành về Biên phòng. Nhìn quang cảnh nhà trường đã khác xưa, nhà ngói, nhà tầng, sân bóng, bãi thể thao, thể dục..., đội ngũ giáo viên tốt nghiệp đại học và trên đại học, học viên phần nhiều là học sinh Trung học phổ thông. Học viện không chỉ đào tạo cử nhân, mà còn đào tạo thạc sĩ và tiến sĩ... Có được những thành quả đó, các thế hệ đi sau không bao giờ quên được sự đóng góp của ông trong 5 năm, làm Bí thư Đảng ủy và quyền Chính ủy với 4 khóa học đầu tiên tại trường. Đó cũng là những ký ức sâu sắc nhất trong thời gian ông công tác ở BĐBP.
Nhà nước đã trao tặng nhiều phần thưởng cao quý trong thời chiến cũng như trong thời bình cho Phó Giáo sư, Tiến sĩ, Thiếu tướng Cao Thượng Lương. Nhưng có một phần thưởng cũng không kém phần vẻ vang, đó là tình cảm yêu mến, quý trọng của cán bộ, chiến sĩ BĐBP dành cho ông suốt cuộc đời quân ngũ và cả khi ông đã trở về với cuộc sống đời thường.






