Biên phòng - Người Cơ Tu sống chủ yếu ở các huyện Tây Giang, Đông Giang, Nam Giang (tỉnh Quảng Nam); huyện A Lưới, Nam Đông (tỉnh Thừa Thiên Huế); huyện Hòa Vang (TP Đà Nẵng). Tộc người Cơ Tu có một kho tàng văn hóa vật thể và phi vật thể truyền thống rất phong phú và đa dạng, trong đó, có thể kể đến các lễ hội truyền thống thường niên như lễ hội ăn trâu mừng lúa mới, các loại hình nghệ thuật diễn xướng trống chiêng, nói lý - hát lý, dân ca, dân vũ, trình diễn nhạc cụ dân tộc và các phong tục tập quán, kiến trúc nghệ thuật độc đáo, đặc biệt là tri thức về mối quan hệ ứng xử hài hòa với điều kiện tự nhiên và môi trường sống.

Người Cơ Tu thường sinh sống dọc dãy Trường Sơn hùng vĩ, huyền thoại. Từ xa xưa, rừng gắn bó mật thiết với họ, chở che, nuôi sống họ. Rừng như là vị thần thiêng liêng của làng, của cộng đồng dân tộc. Người Cơ Tu không xem rừng là thứ tài nguyên để chiếm lĩnh, khai thác, mua, bán và chiếm lấy bằng mọi giá về mình mà họ xem rừng như người thân yêu ruột thịt của mình. Đối với người Cơ Tu có thể hiểu trên danh nghĩa rừng là của chung, bảo vệ rừng vì cái chung, cho cả cộng đồng dân tộc, họ không đề cao lợi ích riêng cho bản thân, cá nhân nào hết. Bởi thế, họ luôn ứng xử có văn minh, trân trọng đối với rừng, tôn thờ thần rừng, nhất là rừng thiêng, rừng đầu nguồn, rừng có nghĩa địa và rừng có nhiều gỗ quý hiếm, nhiều cây thuốc chữa bệnh cho dân làng.
Sự văn minh của người Cơ Tu trong ứng xử đối với rừng còn thông qua hệ thống các giá trị của các hương ước, luật tục về cách ứng xử văn minh với rừng, dù các hương ước và tập tục Cơ Tu đó đều bất thành văn, xuất phát từ thực tế môi trường sống của đồng bào, dù không có nhà tù, không hề dùng vũ lực, nhưng khi được hội đồng các già làng lập ra luôn được dân làng chấp thuận cao và cộng đồng dân làng thực hiện rất tốt, không ai dám vi phạm vì sợ ảnh hưởng đến các vị thần (yang), đến sự linh thiêng của rừng, của làng. Họ không dám làm việc xấu, việc bất lương, nhất là đối với rừng, với dân làng, vì sợ làm ô uế bản thân, dòng họ, sẽ làm hại dân làng, con cái ốm đau, dân tộc của mình bị diệt vong.
Với người Cơ Tu, mỗi khi lấy bất cứ thứ gì từ trong rừng, họ luôn quan niệm là phải xin các đấng thần linh của rừng (yang), chặt cây to hay cây nhỏ đều phải xin, phải họp bàn dân làng và phải làm lễ cúng cẩn thận mới chặt được, mang về được. Ngày xưa, họ không có từ mua bán sản vật từ rừng mà chỉ mang đi biếu tặng, trao đổi, thể hiện sự hiếu khách của làng, vì họ sợ thất đức, làm hại đến mẹ rừng. Mọi thứ trên rừng đều là của chung, của cả cộng đồng dân làng, tất cả mọi người, từ trẻ, già, trai, gái đều có trách nhiệm và nghĩa vụ chung là gìn giữ rừng, bảo vệ mẹ rừng linh thiêng của mình, cũng như góp công sức, tài năng của mình để làm nên và bảo vệ thành quả ngôi nhà Gươl (bảo tàng sống linh thiêng nhất của làng) ngày càng kỳ vĩ, to lớn, đầy sức sống mang linh hồn của cả dân làng, dân tộc.
Trong lao động sản xuất, người Cơ Tu xem rừng như là nguồn sữa mẹ, mang đến cho dân làng những mùa lúa rẫy chín vàng, những mùa màng bội thu, đầy kho, đầy nóc nhà, dân làng được ấm, no, an lành. Do vậy, đối với người Cơ Tu, họ có cả một kho tàng triết lý và những điều cấm kị khi chọn đất làm rẫy để canh tác, chọc, trỉa, để mẹ rừng không cạn kiệt nguồn sữa. Như, luôn quan niệm rằng, cấm phá rừng già, rừng đầu nguồn. Khoảnh làm rẫy, rừng không non quá cũng không được già quá, thường sau khi họ làm rẫy xong một vụ/năm, họ hoàn trả lại đất cho mẹ rừng 3 đến 4 năm sau, họ mới quay lại xin mẹ rừng được phát mùa rẫy mới tiếp theo.
Quy trình chọn khoảnh đất phát rẫy này của người Cơ Tu cứ quay vòng, khép kín như vậy. Cuộc sống của họ không phải theo kiểu du canh du cư mà vì chờ đất rẫy cũ đủ tuổi, họ mới quay lại làm. Đây là cách ứng xử rất văn minh, hài hòa với mẹ rừng. Họ không để đất rẫy mẹ rừng lười biếng và sử dụng các loại phân bón hóa chất độc hại. Họ trồng lúa, bắp, sắn, khoai sinh trưởng phát triển cho ra quả, hạt tự nhiên nhờ mẹ rừng và thần rừng bảo hộ; đó là những dòng sông chở nặng phù sa, những khe suối mát lành chảy ngầm dưới rễ cây trồng. Họ hoàn trả lại mẹ rừng đất sau khi thu hoạch lúa ngô về làng xong. Sau vài năm, mẹ rừng sẽ hồi sinh trở lại, cây cỏ mọc lên và phát triển, lại trở thành khoảnh rừng rẫy (a rứi) có thể làm rẫy cho một hộ nào đó trong làng.
Rừng đối với người Cơ Tu còn là nơi khơi tạo, điều tiết ra những mạch nước ngầm, tích tụ thành mạch sống chảy âm thầm mát rượi từ các cánh rừng nguyên sinh hơn hàng ngàn năm tuổi, từ thân rễ của vạn ngàn cây cối đứng sừng sững, hiên ngang giữa dãy Trường Sơn huyền thoại, tạo thành các khe suối trong lành, hợp thành dòng sông lớn chở nặng bao phù sa, bồi đắp màu mỡ cho cánh đồng ngô, lúa xanh tươi của họ, rừng vừa cho nước để họ canh tác, sản xuất, vừa là nguồn nước sạch linh thiêng họ lấy về dùng để cúng tế và sinh hoạt hằng ngày.
Trong văn hóa của người Cơ Tu, hình ảnh các vị thần, mô típ sa số về biểu tượng của các động - thực vật sống ở rừng luôn được biểu hiện rất sinh động trong văn hóa nghệ thuật, kiến trúc nhà mồ, nhà gươl, nhà dài, trong ứng khẩu tinh túy về nghệ thuật nói lý - hát lý, trong dân ca, dao duyên đối đáp và trong truyền thuyết, chuyện cổ tích và ngay cả trong văn hóa ẩm thực cũng luôn chứa đựng hình ảnh gần gũi của các loài từ mẹ rừng mang tặng dân làng. Từ rau rừng, cá, ốc, đến tên sông, suối, cây cối linh thiêng và muông thú luôn được người Cơ Tu sử dụng thông qua đặt tên làng, tên con cái, dòng họ....
Rừng với người Cơ Tu như người mẹ hiền, người cha hùng dũng, kiên cường che chở nuôi dưỡng họ trường tồn cùng lịch sử phát triển của dân tộc và nhân loại. Trong văn hóa của người Cơ Tu, không có văn hóa nào không bắt nguồn và gắn liền với rừng, rừng là cội nguồn của văn hóa Cơ Tu. Rừng là vị thần lớn số một chứng giám sự minh bạch, trong sạch của dân làng. Rừng cũng là vũ trụ hiền từ nuôi dưỡng, giáo dục cách sống hài hòa với thiên nhiên và cũng là nơi cuối cùng trong vòng đời sinh, lão, bệnh, tử của con người để rừng đón đứa con về khi lìa xa cõi trần về với cõi vĩnh hằng, với mẹ rừng, với ngàn xanh cây lá để rồi tái sinh thành những giọt sương long lanh tươi mát cho đời, cho con cháu ngày sau.

Chính từ những quan niệm trên nên người Cơ Tu luôn truyền dạy cho con cái bằng những câu nói lý rất thâm thúy, văn minh, sâu sắc: "Con chim trên trời cao cần rừng xanh bát ngát/ Con cá dưới nguồn cần dòng nước trong veo/ Con người Cơ Tu cần mẹ rừng che chở/ Cho dân làng ta sinh sôi, nảy nở/ Cho mùa màng ta luôn bội thu/ Cho người Cơ Tu khắp muôn nơi mãi mãi trường tồn.../ Mất rừng chim không còn tiếng hót/ Mất suối sông cá không còn hơi thở/ Mất mẹ rừng người Cơ Tu sẽ tàn vong".
Ngày nay, trong xu thế hội nhập và phát triển, những quan niệm của người dân tộc thiểu số Cơ Tu đang bị mai một; vai trò, "cánh tay nối dài" đắc lực của các vị già làng cũng không còn được trọng dụng như trước; giá trị của các hương ước, không được dân làng chấp thuận cao; luật tục dân tộc bị phá vỡ, không còn trang nghiêm, linh thiêng như xưa nữa... Những cánh rừng cũng dần bị xóa sổ, bị bao đối tượng khai thác, tận diệt cạn kiệt, nhất là những cánh rừng nguyên sinh, rừng đầu nguồn có nhiều gỗ, động vật quý hiếm. Không gian làng từ đó cũng bị phá vỡ và kéo theo tính cấu kết cộng đồng không còn được đề cao.
Người dân thiếu đất, thiếu nguồn nước để trồng trọt, sản xuất, họ sớm trở thành vấn nạn của việc tham gia khai thác, vận chuyển, tiếp tay tàn phá mẹ rừng để mưu sinh. Không những thế, những lòng sông, khe suối cũng bị đào xới để tìm lấy tất cả những gì có giá trị mà không nghĩ đến các hệ lụy về môi trường, sinh cảnh, về sự tồn vong của thế hệ hôm nay và mai sau, trong đó, nhất là nguồn nước sạch. Mất rừng sẽ dẫn đến rất nhiều hệ lụy khác như bão lụt, lũ ống, lũ quét và hạn hán ngày càng khốc liệt... Điều đó khiến chúng ta càng thấm thía, tiếc nuối các giá trị của các hương ước, luật tục và tri thức của người dân tộc thiểu số, trong đó có người Cơ Tu về cách ứng xử với rừng, với môi trường sống biết nhường nào.
Pơloong Plênh






