Đường dây nóng: 0983449277 - 0912325336Thứ hai, 18/05/2026 03:27 GMT+7

“Thi tướng” đất Khu V

Biên phòng - Nguyễn Chánh còn có tên là Nguyễn Chí Thuần, sinh năm 1914, ở xã Tịnh Hà, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi. Gia nhập Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội năm 15 tuổi (1929), ông là một trong những người tham gia lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Ba Tơ. Cùng chung chí hướng, chung lý tưởng, ông đã được Tướng Phạm Kiệt - Tư lệnh Công an nhân dân vũ trang gả em gái cho.

23-1.gif
Ông Nguyễn Chánh (1914-1957)
Khi tướng Kiệt chuyển sang làm nhiệm vụ khác, ông được giao trọng trách Tư lệnh, kiêm Chính ủy Liên khu V và đã chỉ huy đánh cho binh đoàn cơ động số 100 của Pháp đại bại trên mặt trận Tây Nguyên trong chiến dịch Đông - Xuân 1953-1954 nhằm "chia lửa" cho chiến trường Điện Biên Phủ. Chiến thắng giòn giã của Nguyễn Chánh khiến viên tướng Pháp trước khi cuốn gói về nước đã xin gặp mặt bằng được để nói lời cảm phục.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết về chuyện này: "Tướng chỉ huy quân viễn chinh Pháp trên chiến trường Tây Nguyên và là Tư lệnh chiến dịch At-lan-te (đợt 1, 2) là De Beaufort đã hết sức khâm phục, và sau khi chiến tranh kết thúc đã ngỏ ý muốn gặp "vị tướng đã làm cho tôi điêu đứng trên chiến trường…". Tôi đã cho tổ chức và đã dự cuộc gặp gỡ lý thú ấy khi anh Chánh và cả Tướng De Beaufort có mặt tại Hà Nội". Năm 1954, Nguyễn Chánh là Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Tổng Tham mưu trưởng QĐND Việt Nam, Chủ nhiệm Tổng cục Cán bộ - Bộ Quốc phòng. Ông mất đột ngột vào ngày 24-9-1957 (43 tuổi), lúc chuẩn bị nhận phong hàm Thượng tướng.

Ông Nguyễn Hồng Sinh, một cán bộ lão thành cách mạng cùng thời, còn nhớ đoạn thơ sau đây của Nguyễn Chánh làm khi chưa tham gia cách mạng (tức chưa đến 15 tuổi): "Cha chả may! Cha chả may!/ Nước ta độc lập đã tới ngày/ Thanh niên - các bạn vùng đứng dậy/ Non nước rồi đây cất cánh bay!".

Thiên tư ấy càng được minh chứng lúc ông chừng 15-16 tuổi, trên đường làm liên lạc đưa các đồng chí Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội lên núi giả làm ruộng để che mắt địch đảm bảo bí mật cho hoạt động, Nguyễn Chánh có bài thơ "Đi trên núi, nhớ nhà…": "Nhớ mưa, nhớ gió, nhớ quê nhà/ Nhớ lúc thanh nhàn dạo cỏ hoa/ Nhớ trống tự do không kẻ đánh/ Nhớ đàn dân chủ thiếu người hoà/ Nhớ cờ độc lập tươi sông núi/ Nhớ đuốc trung thành rọi quốc gia/ Nhớ bạn đồng tâm đâu chẳng thấy/ Nhớ mưa, nhớ gió, nhớ quê nhà…".

Năm 19 tuổi (1933), lúc đang ở tù, nghe tin mẹ từ trần, Nguyễn Chánh có bài văn tế mẹ rất thống thiết. Trong hồi ký, bà Phạm Thị Trinh (vợ ông) còn chép lại mấy câu theo trí nhớ: "Đầu non gãy một cành huyên/ Mặt đất nhỏ đôi dòng lệ/ Mẹ năm mươi phải đành tạ thế/ Con mười chín chịu gánh càn khôn…".

Cũng trong năm 1933, ra tù, Nguyễn  Chánh có bài thơ gửi người yêu là Phạm Thị Trinh đang bị giam trong lao Quảng Ngãi, nhằm động viên tinh thần, khí tiết người cách mạng: "Đường đời còn lắm nỗi chông gai/ Tri kỷ ai về nhắn với ai/ Vàng thật quản gì lò lửa đốt/ Ngựa hay chi sá lối đường dài/ Mong cho thành gấm - chờ thêu dệt/ Muốn đặng nên kim - đợi sắt mài/ Nước chảy đá mòn là thế đấy/ Cho hay thành bại bởi nhân tài".

Tháng 4-1944, Nguyễn Chánh bị bắt vào tù lần nữa. Bà Phạm Thị Trinh viết: "Nửa tháng sau, tôi nhận được thư anh từ Phú Bài gửi về, có kèm những câu thơ: "Cuộc gặp gỡ đâu phải là tái hợp/ Khi chia tay ta chỉ đứng nhìn nhau/ Anh ở trên xe, không rời được con tàu/ Em dưới đất mà đôi môi mím chặt/ Đứng dậy em ơi, đừng mau nước mắt…"…

Nguyễn Chánh còn những vần thơ hay và đầy khí vị nữa. Những vần thơ vững vàng thi pháp, thấm đẫm chí khí công dân, đạo lý làm người, trở trăn thế sự… cho thấy một Nguyễn Chánh không những là vị tướng quân thao lược giữa trận tiền, mà còn là một tác giả dồi dào bút lực và giàu tính nghệ thuật.

Ngày nay, tại quê nhà xã Tịnh Hà, huyện Sơn Tịnh, Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ngãi đã cho tôn tạo ngôi nhà cũ của gia đình thành Nhà tưởng niệm và dựng Bia di tích tướng quân Nguyễn Chánh, tại trung tâm thành phố Quảng Ngãi cũng có một đường phố sạch đẹp, phong quang, trang trọng mang tên ông.

Lâu nay, mĩ từ "thi tướng" gần như chỉ được gắn liền với Thiếu tướng - nhà thơ Huỳnh Văn Nghệ ở Khu VII với bài thơ "Nhớ Bắc" nổi tiếng. Tướng Nguyễn Chánh văn võ song toàn của Khu V này cũng rất xứng đáng được vinh danh bằng mĩ từ "thi tướng" ấy.
Tạ Văn Sỹ

Bình luận

ZALO