Biên phòng - Thiếu tướng Nguyễn Mạnh Thoa, nguyên Phó Tư lệnh BĐBP (giai đoạn 1982-1988), sinh năm 1927, tại xã Hữu Hòa, huyện Thanh Trì, Hà Nội. Dù đã ở tuổi 85, nhưng ở ông vẫn toát lên một phong thái đĩnh đạc, khoan thai, khỏe khoắn của vị tướng đã nhiều năm lăn lộn chiến trường.
![]() |
| Thiếu tướng Nguyễn Mạnh Thoa, nguyên Phó Tư lệnh BĐBP. |
Bước đầu về nhận chức Phó Tư lệnh BĐBP, để tiện nắm tình hình và học tập kinh nghiệm của các đồng chí cũ, ông đề nghị Văn phòng Bộ Tư lệnh xếp cho mình một chỗ nghỉ trong doanh trại. Trong hai tháng, ông đã miệt mài nghiên cứu, tìm hiểu, trao đổi, học hỏi kinh nghiệm và nắm bắt tình hình lực lượng. Mỗi tối, ông lại mời một cán bộ Cục hoặc phòng giới thiệu nội dung, kinh nghiệm về công tác biên phòng. Ông nói: "Tôi nghĩ rằng, các đồng chí ở cơ quan Tham mưu, Chính trị, Trinh sát, Pháp chế cơ quan Bộ Tư lệnh Biên phòng là những người thầy mà tôi phải học hỏi và phát huy để những đồng chí đó giúp cho mình làm tốt công tác biên phòng". Nhờ tinh thần trách nhiệm cao đối với công việc, nhiệt tình học hỏi và cầu thị mà ông đã được mọi người quý mến, giúp đỡ. Và ông đã nhanh chóng làm tốt công tác biên phòng.
Cuối năm 1983, Phó Tư lệnh BĐBP Nguyễn Mạnh Thoa tới khảo sát khu vực cửa khẩu Mộc Bài, thuộc tỉnh Tây Ninh, nơi giáp ranh với nước bạn Cam-pu-chia. Qua khảo sát, ông vô cùng ngạc nhiên khi thấy những tội phạm bị BĐBP bắt giữ lại không được giam tại đó mà phải chuyển sang Bộ Công an "nhờ giữ hộ". Tuy nhiên, Bộ Công an lại không có quyền xét hỏi, không có suất ăn cho phạm nhân, nên chỉ được mấy buổi, phạm nhân lại được "phóng thích". Tướng Nguyễn Mạnh Thoa đã nhận ngay thấy sự bất ổn về mối quan hệ hiệp đồng giữa các lực lượng Công an, BĐBP, Hải quan, Quản lý thị trường... Sự tập hợp quá nhiều lực lượng ở cửa khẩu nhưng lại không có sự phối hợp tốt, chính là lỗ hổng để những kẻ xấu lợi dụng, xâm nhập phá hoại.
Với con mắt của một nhà trinh sát có kinh nghiệm cộng với việc từng làm tham mưu quân sự, ông đã đưa ra một kết luận rất chính xác, đó là "Phải có một thông tư liên bộ giữa Bộ Công an và Bộ Quốc phòng để có sự phân công rõ ràng, hợp lý giữa các lực lượng với nhau". Tuy nhiên, việc chờ thông tư liên bộ được thông qua, ví như "nắng hạn chờ mưa" mà tình hình lại vô cùng cấp bách, cần nhanh chóng giải quyết. Vậy là, ông lập tức tới tận nơi "cầu cứu" Thứ trưởng Bộ Công an phụ trách các tỉnh phía Nam - đồng chí Cao Đăng Chiếm.
Trước tình hình thực tế ở biên giới, ông đã đặt vấn đề một cách thẳng thắn với đồng chí Cao Đăng Chiếm và kết luận một câu "chắc như đinh đóng cột" rằng: "Tôi và ông không làm việc này thì tôi thấy có tội với Tổ quốc" khiến đồng chí Cao Đăng Chiếm rất cảm phục. Đồng chí Chiếm bảo: Để làm được việc này cần có sự đồng ý của đồng chí Phạm Hùng, Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Công an. Nói là làm, đồng chí Chiếm đã gọi điện cho đồng chí Phạm Hùng xin một cuộc hẹn giúp ông. Quá bận bịu với công việc Nhà nước, đồng chí Phạm Hùng chỉ cho chút thời gian vào buổi tối. Vậy là, vị Phó Tư lệnh BĐBP cùng với thư kí của mình mau chóng tới nhà Phó Thủ tướng Phạm Hùng.
Không để cho đồng chí Phạm Hùng phải đợi lâu, Phó Tư lệnh đã trình bày ngay tình hình khẩn cấp ở biên giới. Kết quả là đồng chí Phạm Hùng vui vẻ đồng ý. Ông còn cẩn thận đến mức xin tờ giấy xác nhận để mang về đưa cho đồng chí Cao Đăng Chiếm.
Trong lúc chờ đợi thông tư liên bộ thì Thường trực BĐBP và Thường trực Bộ Công an đã làm một bản quy chế tạm thời, hoạch định rõ phương hướng hoạt động cho hai lực lượng Công an và BĐBP kết hợp cùng các lực lượng ở biên giới Việt Nam - Cam-pu-chia, giải quyết dứt điểm tình trạng sơ hở trên biên giới.
Không chỉ giỏi về lĩnh vực quân sự, biên phòng, ông còn tận tâm, tận lực với công tác đào tạo trong hệ thống nhà trường của BĐBP. Ngày ấy, ông làm được hai việc quan trọng cho trường Sĩ quan Biên phòng, đó là: Tổ chức đời sống mới cho học viên và nâng cao cải tiến phương pháp giảng dạy.
Ngôi trường mang tên trường Sĩ quan Biên phòng nằm nép mình dưới những tán cây xanh. Những viên gạch nơi đây dường như đã trải qua rất nhiều mùa mưa nắng, màu sắc đã phai và lên rêu. Bức tường bao quanh trường nhiều chỗ đã bị thủng. Nhìn ngôi trường, lòng vị chỉ huy như se lại, sẽ thật khó khăn để xây dựng ngôi trường khang trang hơn trong điều kiện kinh phí khó khăn ở những năm 80 của thế kỷ trước.
Hằng ngày, sau khi học trên lớp, học viên không chỉ rèn luyện sức khỏe để sẵn sàng chiến đấu khi Tổ quốc cần, mà còn phải đóng gạch để xây một số công trình trong trường, phục vụ việc học, mất rất nhiều sức. Thế nhưng, bữa ăn của học viên chỉ có chút cơm với rau, mắm, muối. Học viên nhìn nhau vì đói, cơm không đủ, phải ăn thêm bo bo. Nhìn cảnh tượng ấy, Tướng Thoa nghĩ tới những người bố, người mẹ của học viên, họ thấy cảnh này chắc rất xót xa. Bản thân ông còn vậy, huống chi...
Buổi tối, trường không có điện. Mỗi người chỉ có một cây đèn dầu tù mù, cộng với việc đói bụng, ít ai có thể chịu được đói mà ngồi học. Vì vậy, có học viên trốn ra ngoài ăn quà vặt. Nhà trường biết điều ấy, nhưng chẳng lẽ lại bắt học viên ôm cái bụng đói meo về chịu phạt. Trước thực trạng ấy, nhiều đêm ông suy nghĩ: Ngôi trường cũ kỹ thì phải chịu, vì giờ không có kinh phí để xây trường mới. Nhưng chẳng lẽ cứ để tình trạng thiếu giáo viên, thiếu điện nước, thiếu lương thực... thế này mãi sao? Phải làm thế nào để cải thiện cho học viên đây? Những câu hỏi cứ trăn trở trong đầu ông làm cho mái tóc đã chuyển sang màu muối tiêu.
Sau những ngày trăn trở, tính toán, Tướng Thoa đã bày tỏ quan điểm và hướng giải quyết của mình với đồng chí Phan Ngọc - Hiệu trưởng trường Sĩ quan Biên phòng. Ông quả quyết: "Khó đến mấy cũng phải làm, nhiệm vụ học tập của học viên vẫn phải đặt lên hàng đầu. Vậy chúng ta phải có đột phá từ học tập. Muốn làm được như vậy, chúng ta phải xây dựng kế hoạch, tạo cơ sở vật chất cho học viên".
Để thực hiện cho kế hoạch "đổi mới", Tướng Thoa bảo: "Đầu tiên là trường phải có điện. Chỉ khi có điện, anh em mới có ánh sáng để học vào buổi tối, có điện để sinh hoạt, vui chơi"... Rồi sau đó, chính ông đã gặp và trao đổi với ông Lưu Viết Thụ, Chủ tịch tỉnh Hà Tây ngày đó và xin được điện về trường. Cả trường vui mừng khôn xiết. Thế là công việc đầu tiên đã thành công.
Niềm vui lớn lao ấy còn tạo thêm cho Tướng Thoa sáng kiến thứ hai. Chuyện xảy ra cũng rất tình cờ. Nhờ có điện, một lần, ông xuống Kho 101 của BĐBP, nhìn thấy cái máy Top bỏ không. Máy Top ấy vốn là máy kiểm tra hàng hóa ở cửa khẩu do nước bạn Hung-ga-ri tặng. Ông nhận thấy, một số bộ phận của máy tuy hỏng hóc, nhưng vẫn có thể sửa chữa sử dụng được. Lại được biết, máy ấy nếu lắp thêm bộ phận nữa thì sẽ trở thành máy có chức năng như máy chiếu bây giờ. Mừng quá, ông về báo cáo lại với Tư lệnh xin luôn cái máy về trường làm công cụ giảng dạy cho học viên. Từ lúc có máy Top giảng dạy, học viên tiếp thu bài nhanh và hiệu quả hơn nhiều. Quan trọng nhất là, học viên không còn bỏ học nữa. Phương pháp này đã được Cục Nhà trường biểu dương trong hệ thống các trường Quân đội.
Tuy tuổi đã cao nhưng ngày ngày, Thiếu tướng Nguyễn Mạnh Thoa vẫn đọc báo để nắm mọi tình hình của đất nước. Ông luôn đau đáu về vấn đề đạo đức con người và vấn đề biển, đảo của Tổ quốc. Ông tâm sự: "Giờ tôi già rồi, không làm được gì nữa. Chỉ mong tất cả chúng ta hãy sống với nhau tốt đẹp hơn, đoàn kết, bởi trong có ấm thì ngoài mới êm được"...






