Người Cơ Tu sống chủ yếu ở các huyện Tây Giang, Đông Giang, Nam Giang (tỉnh Quảng Nam); huyện A Lưới, Nam Đông (tỉnh Thừa Thiên Huế); huyện Hòa Vang (TP Đà Nẵng). Tộc người Cơ Tu có một kho tàng văn hóa vật thể và phi vật thể truyền thống rất phong phú và đa dạng, trong đó, có thể kể đến các lễ hội truyền thống thường niên như lễ hội ăn trâu mừng lúa mới, các loại hình nghệ thuật diễn xướng trống chiêng, nói lý - hát lý, dân ca, dân vũ, trình diễn nhạc cụ dân tộc và các phong tục tập quán, kiến
Đồng bào dân tộc Khmer ở Nam bộ, hằng năm đều tổ chức Tết cổ truyền Chôl Chnăm Thmây nhằm bày tỏ lòng biết ơn của mình đối với tổ tiên, những người có công trong cộng đồng. Đây cũng là dịp để mọi người sắm lễ vật dâng cúng chư thần, những người đã khuất, là cơ hội để báo hiếu đến bậc sinh thành… qua đó, cầu mong những điều tốt đẹp nhất trong cuộc sống.
Từ bao đời nay, hủ tục nối dây đã trói buộc cuộc đời không biết bao nhiêu người phụ nữ bản Chùa, xã Cam Tuyền, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị. Để có ngày mai tươi sáng hơn, các chị, các mẹ đã can đảm đứng dậy, "chặt đứt" hủ tục lâu đời này.
Trong các lễ hội truyền thống của người Pa Kô ở xã A Roàng, huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế, khách đến tham dự thường được dân bản đãi một loại rượu cổ xưa nhất được chế biến từ cây tà vạt. Rượu được "nấu" bằng "công nghệ 3 không": Không men, không chưng cất và không… say.
Làng Chăm, ấp Búng Lớn, xã Nhơn Hội, huyện An Phú là một trong những nơi tập trung nhiều người Chăm nhất tỉnh An Giang. Cũng giống như cộng đồng người Chăm theo đạo Hồi (dòng Isalam), người Chăm nơi đây rất trọng giáo lý, coi đó như một tín ngưỡng trong đời sống. Nhưng dưới sự dẫn dắt của ông Giáo cả đương nhiệm Mách Sa Lếs với quan điểm "đạo đi đôi với đời", người làng Chăm nơi đây luôn hòa nhập vào dòng chảy xã hội.
Người Khmer Nam Bộ có nhiều lễ hội, nhưng lễ hội Oóc-om-bóc được mọi người đặc biệt quan tâm và tổ chức trang trọng. Lễ Oóc-om-bóc thường được tổ chức đều đặn hàng năm vào ngày con nước, tháng cuối năm với mục đích tạ ơn thần Trăng đã cho mùa màng tốt tươi, cuộc sống no đủ, sông suối nhiều tôm cá, người người được mạnh khỏe.
Theo những nghiên cứu của các nhà khoa học về sự thiên di của các ngành Thái ở Tây Bắc Việt Nam, đặc biệt qua hai cuốn sử thi của người Thái Đen: "Quắm tố mương" và "Táy pú xấc", vào khoảng thế kỷ IX đến XI ngành Thái Đen do Tạo Xuông và Tạo Ngần dẫn đường di cư từ Mường Ôm, Mường Ai đến Mường Lò cư trú và họ đã sáng tạo ra chữ viết để ghi lại những sinh hoạt văn hóa của mình. Chữ viết là phương tiện duy nhất để ghi chép các thông tin kinh tế, xã hội, văn hoá của dân tộc Thái
Bắt nguồn từ vùng núi Houa thuộc Tây Bắc Sầm Nưa, có một dòng chảy miệt mài qua 325km núi đồi, ghềnh thác rồi đổ vào Việt Nam qua hai huyện Quế Phong (Nghệ An) và huyện Thường Xuân, Thọ Xuân (Thanh Hoá) trước khi sầm sập hòa nước nơi Ngã Ba Giàng, trở thành phụ lưu lớn nhất của sông Mã. Người Tày, Thái gọi đó là Nậm Sam, người Kinh đặt tên sông là sông Lường hay sông Sủ. Và dòng sông ấy đã được người Pháp ghi lên bản đồ là sông Chu. Những người dân biên giới Quế Phong đã men theo đường mòn ngược