Biên phòng - Từ "bệ phóng" của những thầy giáo quân hàm xanh, có không ít em học trò nghèo ở các làng biển Phú Yên đã nỗ lực trong cuộc mưu sinh, vươn lên làm giàu, xây dựng kinh tế gia đình phát triển và giúp đỡ nhiều người có cuộc sống tốt hơn.
Bài 2: Hành trang cho giấc mơ vượt nghèo
"Ở làng chài này, có những thuyền trưởng trẻ can trường, quanh năm luôn có mặt, hiên ngang trên những con tàu giữa biển khơi sóng nước. Thế nhưng, khi về bờ, gặp lại những chú BĐBP từng dạy lớp học tình thương, họ luôn cúi đầu lễ phép chào thầy bằng niềm trân trọng, kính mến". Lời kể của ông Nguyễn Văn Lễ, Trưởng khu phố 6, phường Phú Đông, TP Tuy Hòa đã thôi thúc tôi tìm về cảng cá Đông Tác, nơi có hàng chục thuyền trưởng của những con tàu đi đánh bắt cá ngừ đại dương từng là học trò lớp tình thương do những người lính Đồn BP Tuy Hòa giảng dạy.
Làm chủ biển khơi
Tôi kịp gặp Thuyền trưởng tàu cá PY 90496 Lê Tấn Vinh tại cầu cảng khi anh vừa kết thúc công việc bơm dầu và bốc chuyển các nhu yếu phẩm, chuẩn bị cho tàu xuất bến ra khơi. Nhìn dáng người nhỏ thó, nét mặt hiền lành của chàng trai này, chúng tôi khó hình dung, anh đang là "trụ cột" trong cuộc mưu sinh lo cơm, áo, gạo, tiền, không riêng cho gia đình nhỏ của mình, mà còn lo cho hàng chục gia đình thuyền viên vẫn ngày ngày cùng anh bám đuổi nghiệp biển.
"Vừa là thuyền trưởng, vừa là chủ tàu, cái lo của mình không chỉ đơn thuần là cầm lái đưa con tàu ra ngư trường rồi trở về an toàn mà quan trọng là chuyện tính toán đường làm ăn như thế nào để đạt hiệu quả cao nhất. Tàu có 10 lao động không có nghĩa chỉ kiếm đủ cho 10 miệng ăn, phải nhìn thấy phía sau đó còn là cuộc sống của ít nhất khoảng 60 con người nữa đang ở trong bờ" - Vinh tâm sự.
Lê Tấn Vinh là con lớn trong một gia đình đông anh em ở làng biển Đông Tác. Tuổi thơ của Vinh là những chuỗi ngày bị cái nghèo đè nặng tâm trí. "Hồi ấy, nhà tôi cũng như nhiều bà con trong làng chỉ có chiếc sõng thúng để bơi quanh bờ kiếm ăn từng bữa, sống qua ngày. Khi vào học lớp tình thương của BĐBP, thi thoảng, cả lớp được nghe thầy Dũng, thầy Vàng "khai mở" rằng, nguồn lợi thủy sản trong bờ sẽ đến lúc giảm dần, mai này, thế hệ các em hãy đóng tàu to, máy lớn ra khơi làm ăn để đổi đời. Cũng từ đó, chúng tôi bắt đầu ấp ủ giấc mơ vươn khơi".
"Dân biển người nào cũng vậy, cứ lớn lên, đi ra biển rồi nghề sẽ dạy mình. Điều tôi thấy mình may mắn là nhờ những năm học ở lớp tình thương của các thầy giáo Biên phòng, tôi đã biết đọc, biết viết, biết tính toán, tổ chức công việc nên việc tiếp cận với các thiết bị, máy móc trong nghề biển hiện đại rất thuận lợi" - Thuyền trưởng Vinh khẳng định."
Sau 15 năm bám biển vừa làm ăn, vừa tích góp tiền, của và tích lũy kinh nghiệm nghề nghiệp, hiện Lê Tấn Vinh đã có một ngôi nhà khang trang và sở hữu một chiếc tàu công suất 400 mã lực, trị giá hơn 2 tỷ đồng. Trên con tàu của mình, Lê Tấn Vinh cho lắp đặt nhiều loại máy hỗ trợ cho việc khai thác như: Máy dò cá, máy thông tin tầm xa HF, máy định vị, đàm dài, đàm ngắn...
Tất cả không chỉ thể hiện quy mô, năng lực vượt trội trong nghề khai thác hải sản, mà còn cho thấy tâm thế vững vàng của một ngư phủ trẻ trước công cuộc bám biển. Vinh chia sẻ, từ khi làm chủ con tàu 400CV này, anh bám biển liên tục, đi câu cả mùa động. Nhờ tàu to, máy lớn vững vàng, có hệ thống đàm thoại và máy định vị nên Vinh và anh em lao động mạnh dạn trong việc làm ăn. Trung bình thu nhập hằng năm của mỗi lao động trên tàu của anh đạt từ 50 đến 70 triệu. Năm 2011, Lê Tấn Vinh vinh dự được Hội Liên hiệp Thanh niên tỉnh Phú Yên mời dự liên hoan thanh niên tiêu biểu và được nhận Bằng khen về thành tích ngư dân trẻ sản xuất giỏi.
Vinh tâm sự, ngày ấy, những đứa trẻ làng chài của anh lớn lên giữa bộn bề khó khăn, không có tiền mua sách vở, lại không có cả tờ giấy khai sinh để nhập học nên chỉ được vào lớp học của thầy giáo Biên phòng. Học hết lớp 5, Vinh và các bạn được chuyển vào học cấp hai ở trường phổ thông, nhưng vì cuộc sống khó khăn, hầu hết đã nghỉ học để đi làm. Với người Thuyền trưởng này, để có cơ ngơi, tài sản như hôm nay là cả một quá trình vận động và nỗ lực không ngừng của bản thân và dấu ấn sâu đậm của những người thầy giáo Biên phòng.
"Bệ phóng" của thầy
Với Thuyền trưởng Lương Công Đông, cho dù bây giờ đã là một người thành đạt trong nghề biển với thu nhập từ 4 đến 5 tỷ đồng mỗi năm, song nhắc đến câu chuyện những năm tháng tuổi thơ học lớp tình thương của các thầy giáo Biên phòng, anh vẫn không khỏi xúc động. Đông cho biết, ngoài những con chữ, phép tính cộng trừ, nhân chia đơn giản thì những bài học về lối sống, về tình người cũng như cung cách làm việc, sự nhẫn nại của các thầy khi dạy dỗ học trò đều tác động rất nhiều đến anh trên bước đường vào đời.
Căn nhà tôn, vách ván nằm ọp ẹp giữa những con hẻm ngập lún cát năm xưa của gia đình Đông, giờ đã được thay bằng một ngôi nhà ba tầng khang trang, bề thế. Tuy vậy, với anh, ký ức tuổi thơ vẫn không bao giờ nhạt nhòa. "Hôm đó, má tôi đang ngồi vá lưới thì có các chú ở Đồn BP Tuy Hòa và cô ở Hội Phụ nữ phường đến. Mọi người động viên má cho tôi vào học lớp tình thương. Bà đồng ý cho đi học nhưng với điều kiện, có lúc cũng phải nghỉ vài bữa ra biển phụ kéo lưới kiếm cá về ăn" - Đông nhớ lại.
Làng biển Đông Tác ngày đó chỉ có các nghề đánh bắt ven bờ như kéo lưới quát, thả đăng, làm mành trủ nên nguồn nhân lực trẻ con cũng được tận dụng tối đa. Không chỉ riêng Đông mà ở làng chài này, nhiều đứa trẻ vào học lớp tình thương đều được gia đình kèm theo những điều kiện tương tự.
Ngày khai giảng năm học mới, 34 đứa trẻ nghèo đã đến lớp trong nỗi mừng vui xen lẫn âu lo, thấp thỏm của những thầy giáo Biên phòng. Những đứa trẻ sinh ra bị lãng quên theo nỗi lo cơm áo của người lớn giờ đã được các thầy giáo quân hàm xanh đi lần từng thông tin để làm lại giấy khai sinh. Các thầy còn tích cực vận động quyên góp để lo từng chiếc cặp, quyển sách, tập vở, cây viết, quần áo, đến cả những suất quà gồm gạo, mắm để hỗ trợ cho học trò.
Cho đến bây giờ, Thuyền trưởng Lương Công Đông vẫn chưa thể quên được chuyện cũ. Anh kể, giờ học được ấn định là 13 giờ 30 phút hằng ngày, thế nhưng, nhiều hôm quá giờ học hơn 1 tiếng đồng hồ vẫn chỉ lác đác 5 - 6 học trò. Đoán biết, những đứa trẻ nghèo đang kéo lưới ngoài biển, thầy đi ngay về đồn gọi đồng đội ra giúp học trò. Kéo lưới lên và gỡ cá xong, những đứa học trò liền chạy về nhà tắm rửa qua loa để ra lớp. Chỉ còn nửa giờ đồng hồ đứng lớp, thầy vẫn giảng dạy chứ không bỏ cuộc.
Những năm đầu tiên lao vào cuộc mưu sinh, Lương Công Đông đã gặp phải không ít khó khăn do thiếu vốn, thiếu kinh nghiệm, lại chưa biết cách khai thác công nghệ hiện đại. "Những lúc ấy, lời căn dặn của thầy giáo Mai Văn Dũng - "phải nuôi ý chí tiến lên chứ không được lùi bước" đã trở thành động lực, nâng thêm quyết tâm trong tôi" - Thuyền trưởng Lương Công Đồng kể.
Rồi, chuyện quên sách, rách vở, mất viết đã trở thành câu chuyện thường ngày ở lớp học này. Lại có cả những câu chuyện dở khóc dở cười khi một hôm, có bạn đứng lên giải thích nguyên nhân rách vở. Tối qua, nhà em hết giấy quấn thuốc rê, ba đi biển bị lạnh quá nên lấy vở em xé tạm một miếng giấy quấn thuốc hút, không may vở nó bung kim rách luôn rồi... Cứ như vậy, những con chữ đã nhọc nhằn đi vào trí óc học trò nhờ có sự nỗ lực của các thầy giáo mang quân hàm xanh.
Dù đã 20 năm trôi qua, nhưng tôi biết, trên bước đường trưởng thành của những cậu học trò nhỏ năm xưa vẫn luôn có các thầy phía sau. "Mỗi lần từ biển về, tôi đều mong được gặp các thầy giáo của mình đứng trên bờ cảng để được khoe rằng, tàu em về no cá" - Lương Công Đông chia sẻ trong niềm xúc động.
Phương Oanh





